Lễ Hội Truyền Thống Của Người Việt

     
TRANG CHỦ Tin tứcCHUYÊN ĐỀ - TÁC GIẢ - TÁC PHẨM

Lễhội truyền thống là hiện tượng lịch sử, hiện tượng văn hóa có mặt ở Việt Nam từlâu đời và có vai trò không nhỏ trong đời sống xã hội. Những năm gần đây, trongbối cảnhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế của nước ta, vănhóa truyền thống nói chung, trong đó có lễ hội truyền thống đã được phục hồi vàphát huy, làm phong phú hơn đời sống văn hóa của Việt Nam. Tuy nhiên, bên cạnhnhững mặt tích cực, tốt đẹp trong phục hồi và phát huy lễ hội cổ truyền trongđời sống xã hội đương đại, thì cũng không ít các vấn đề nảy sinh khiến xã hộicần phải nhìn nhận lại và tìm cách khắc phục để những mặt tinh hoa của lễ hộicổ truyền được đẩy mạnh và phát huy, khắc phục dần các hạn chế, tiêu cực. Vàbao giờ cũng thế, mọi hành động của con người đều bắt đầu từ nhận thức, chỉ khichúng ta có nhận thức đúng về lễ hội cổ truyền thì việc phục hồi và phát huy nótrong đời sống xã hội đương đại mới mang lại hiệu quả mong muốn.

Bạn đang xem: Lễ hội truyền thống của người việt

1. Nhận diện lễ hội truyền thống

*

Lễ hội Chùa Hương

Lễhội là một trong những “hoạt động văn hoá cao”, “hoạt động văn hoá nổi trội”trong đời sống con người. Hoạt động lễ hội là hoạt động của cộng đồng hướng tới “xử lý” cácmối quan hệ của chính cộng đồng đó. Hoạt động này diễn ra với những hình thứcvà cấp độ khác nhau, nhằm thoả mãn và phục vụ lợi ích đa dạng trước mắt và lâudài của các tầng lớp người; thoả mãn những nhu cầu của các cá nhân và tập thểtrong môi trường mà họ sinh sống.

Môi trường của lễ hộitruyền thống Việt Nam về cơ bản chính là nông thôn, làng xã Việt Nam. Lễ hội làmôi trường thuận lợi mà ở đó các yếu tố văn hoá truyền thống được bảo tồn vàphát triển. Những yếu tố văn hoá truyền thống đó không ngừng được bổ sung, hoànthiện, vận hành cùng tiến trình phát triển lịch sử của mỗi địa phương tronglịch sử chung của đất nước. Nó chính là hệ quả của cả quá trình lịch sử củakhông chỉ một cộng đồng người. Đây chính là tinh hoa được đúc rút, kiểm chứngvà hoàn thiện trong dọc dài lịch sử của bất cứ một cộng đồng cư dân nào. Lễ hộicó sức lôi cuốn, hấp dẫn và trở thành nhu cầu, khát vọng của người dân cần đượcđáp ứng và thoả nguyện qua mọi thời đại. Bản chất của lễ hội là sự tổng hợp vàkhái quát cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân trong xã hội ở từnggiai đoạn của lịch sử.

Hiện tại ở nước ta cónhiều loại lễ hội, bên cạnh lễ hội cổ truyền còn có Lễ hội mới, (lễ hội hiệnđại, gắn với các sự kiện lịch sử hiện đại, cách mạng), lễ hội sự kiện (gắn vớidu lịch quảng bá du lịch, Lễ hội nhân kỷ niệm những năm chẵn thành lập thànhphố, tỉnh, huyện)…, trong đó lễ hội cổ truyền thống có số lượng nhiều nhất(khoảng trên 7000 lễ hội trong tổng số gần 9000 lễ hội), phạm vi phân bố rộng(cả nông thôn, đô thị, vùng núi các dân tộc), có lịch sử lâu đời nhất. Người tacó thể phân loại lễ hội cổ truyền theo thời gian các mùa trong năm, trong đóquan trọng nhất là mùa xuân, mùa thu (xuân thu nhị kỳ), phân chia theo phạm vilớn nhỏ: Lễ hội làng, lễ hội vùng, lễ hội quốc gia. Phân loại theo tính chấtcủa lễ hội: Lễ hội nghề nghiệp (nông, ngư, nghề buôn…), lễ hội tôn vinh anhhùng dân tộc, người có công với quê hương, đất nước, lễ hội gắn với các tôngiáo tín ngưỡng cụ thể như lễ hội của Phật, Kitô, Tín ngưỡng dân gian…

Lễ hội cổ truyền lànhững mốc đánh dấu chu trình đời sống sản xuất và đời sống xã hội của mỗi cộngđồng người, mà một khi cái mốc mang tính lễ nghi đó chưa được thực hiện thì cácquá trình sản xuất và quá trình xã hội đó sẽ bị đình trệ, sự sinh tồn và cácquan hệ xã hội sẽ bị phá vỡ. Ví dụ, nếu người Việt và người Tày chưa thực hiệnnghi lễ “Hạ điền”, “Lồng tồng” thì việc gieo hạt đầu mùa sẽ không thể thựchiện, đứa trẻ sinh ra nếu chưa được thực thi nghi lễ “thổi tai”, đặt tên thì nóchưa thể trở thành con người, một chàng trai đến tuổi trưởng thành mà chưa trảiqua nghi lễ thành đinh, cấp sắc thì chưa thể trở thành một thành viên thực sựcủa cộng đồng, một đôi nam nữ thanh niên chưa là lễ tơ hồng, lễ trình gia tiênthì không thể trở thành vợ chồng, một người chết nếu chưa được thày Tào củangười Tày chưa đến thực hiện nghi lễ gọi hồn đưa hồn thì nghi lễ mai táng sẽkhông được thực thi. Do vậy, một nghi lễ, lễ hội bao giờ cũng mang tính chuyểntiếp của một chu trình sản xuất vật chất hay xã hội nhất định.

Trong số hơn 7000 lễ hộicổ truyền của nước ta, xét về nguồn cội đều là lễ hội nông nghiệp, quy mô banđầu là hội làng. Tuy nhiên, trong tiến trình lịch sử, các lễ hội nông nghiệpnày dần biến đổi, làm phong phú hơn bằng những nội dung lịch sử (nhất là lịchsử chống ngoại xâm), nội dung xã hội (nhất là các quan hệ cộng đồng), nội dungvăn hóa tạo nên diện mạo vô cùng phong phú và đa dạng như ngày nay.

So với các loại lễ hộikhác, lễ hội cổ truyền mang 3 đặc trưng cơ bản sau:

- Lễ hội cổ truyền gắnvới đời sốngtâm linh, tôn giáo tín ngưỡng,nómangtính thiêng,do vậy nó thuộc thế giới thần linh, thiêng liêng, đối lậpvới đời sống trần gian, trần tục. Có nhiều sinh hoạt, trình diễn trong lễ hộinhìn bề ngoài là trần tục, như các trò vui chơi giải trí, thi tài, các diễnxướng mang tính phồn thực, nên nó mang tính “tục”, nhưng lại là cái trần tụcmang tính phong tục, nên nó vẫn thuộc về cái thiêng, như tôn sùng sinh thực khímà hội Trò Trám (Phú Thọ) là điển hình.

Tính tâm linh và linhthiêng của lễ hội nó quy định “ngôn ngữ” của lễ hội làngôn ngữ biểutượng, tính thăng hoa,vượt lên thế giới hiện thực, trần tục của đờisống thường ngày. Ví dụ, diễn xướng ba trận đánh giặc Ân trong Hội Gióng, diễnxướng cờ lau tập trận trong lễ hội Hoa Lư, diễn xướng rước Chúa gái (Mỵ Nương)trong Hội Tản Viên… Chính các diễn xướng mang tính biểu tượng này tạo nên khôngkhí linh thiêng, hứng khởi và thăng hoa của lễ hội.

*

Lễ hội Hùng Vương

-Lễ hội cổ truyền là một sinh hoạt văn hóamang tính hệ thống tính phứchợp,một hiện tượngvăn hóa dân gian tổng thể,baogồm gần như tất cả các phương diện khác nhau của đời sống xã hội của con người:sinh hoạt tín ngưỡng, nghi lễ, phong tục, giao tiếp và gắn kết xã hội, các sinhhoạt diễn xướng dân gian (hát, múa, trò chơi, sân khấu…), các cuộc thi tài, vuichơi,giải trí, ẩm thực, mua bán… Không có một sinh hoạt văn hóa truyền thống nàocủa nước ta lại có thể sánh được với lễ hội cổ truyền, trong đó chứa đựng đặctính vừa đa dạng vừa nguyên hợp này.

- Chủ thể của lễ hội cổtruyền làcộng đồng,đó là cộng đồng làng, cộng đồng nghềnghiệp, cộng đồng tôn giáo tín ngưỡng, cộng đồng thị dân và lớn hơn cả là cộngđồng quốc gia dân tộc. Nói cách khác không có lễ hội nào lại không thuộc về mộtdạng cộng đồng, của một cộng đồng nhất định. Cộng đồng chính là chủ thể sángtạo, hoạt động và hưởng thụ các giá trị văn hóa của lễ hội.

Ba đặc trưng trên nó quyđịnhtính chất, sắc thái văn hóa, cách thức tổ chức, thái độ và hànhvi, tình cảmcủa những người tham gia lễ hội, phân biệt với các loạihình lễ hội khác như lễ hội sự kiện, các loại Festival...

Lễ hội cũng như bất cứmột hiện tượng văn hóa, xã hội nào cũng đềuchịu sự tác động bối cảnh kinhtế - xã hội đương thời và nó cũng phải tự thích ứng biến đổi theo. Tuy nhiên,với loại hình lễ hội truyền thống thì ba đặc trưng nêu trên là thuộc vềbảnchất, là yếu tố bất biến, là hằng số,chỉ có những biểu hiện của bađặc tính trên là có thể biến đổi, là khả biến để phù hợp với từng bối cảnh xãhội. Khẳng định điều này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với việc phục hồi,bảo tồn và phát huy lễ hội trong xã hội hiện nay. Việc phục dựng, làm mất đicác đặc trưng trên của lễ hội cổ truyền thực chất là làm biến dạng và phá hoạicác lễ hội đó.

2. Giá trị của lễ hội cổtruyền

*

Lễ hội Tịch Điền

Khinước ta cũng như ở nhiều nước khác đã bước vào công nghiệp hoá, hiện đại hoánhưng lễ hội cổ truyền vẫn tồn tại thậm chí còn bùng phát mạnh mẽ. Phải chăng lễ hội cổtruyền vẫn thu hút và lôi cuốn con người xã hội hiện đại? Nói cách khác, lễ hộicổ truyền vẫn đáp ứng nhu cầu của con người không chỉ trong xã hội cổ truyền màcả xã hội hiện đại. Có được điều đó là do lễ hội cổ truyền hội tụ các giá trịsau:

Giá trị cố kết và biểudương sức mạnh cộng đồng:

Lễ hội nào cũng là củavà thuộc về một cộng đồng người nhất định, đó có thể là cộng đồng làng xã (hộilàng), cộng đồng nghề nghiệp (hội nghề), cộng đồng tôn giáo (hội chùa, hội đền,hội nhà thờ), cộng đồng dân tộc (hội Đền Hùng - quôc tế) đến cộng đồng nhỏ hẹphơn, như gia tộc, dòng họ... chính lễ hội là dịp biểu dương sức mạnh của cộngđồng và là chất kết dính tạo nên sự cố kết cộng đồng.

Mỗi cộng đồng hình thànhvà tồn tại trên cơ sở của những nền tảng gắn kết, như gắn kết do cùng cư trútrên một lãnh thổ (cộng cư), gắn kết về sở hữu tài nguyên và lợi ích kinh tế(công hữu), gắn kết bởi số mệnh chịu sự chi phối của một lực lượng siêu nhiênnào đó (cộng mệnh), gắn kết bởi nhu cầu sự đồng cảm trong các hoạt động sángtạo và hưởng thụ văn hoá (cộng cảm)… Lễ hội là môi trường góp phần quan trọng tạonên niềm cộng mệnh và cộng cảm của sức mạnh cộng đồng.

Ngày nay, trong điềukiện xã hội hiện đại, con người càng ngày càng khẳng định “cái cá nhân”, “cátính” của mình thì không vì thế cái “cộng đồng” bị phá vỡ, mà nó chỉ biến đổicác sắc thái và phạm vi, con người vẫn phải nương tựa vào cộng đồng, có nhu cầucố kết cộng đồng. Trong điều kiện như vậy, lễ hội vẫn giữ nguyên giá trị biểutượng của sức mạnh cộng đồng và tạo nên sự cố kêt cộng đồng ấy.

Tất cả mọi lễ hội cổtruyền đều hướng về nguồn. Đó là nguồn cội tự nhiên mà con người vốn từ đó sinhra và nay vẫn là một bộ phận hữu cơ; nguồn cội cộng đồng như dân tộc, đất nước,xóm làng, tổ tiên, nguồn cội văn hoá... Hơn thế nữa, hướng về nguồn đã trởthành tâm thức của con người Việt Nam - “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớngười trồng cây”. Chính vì thế, lễ hội bao giờ cũng gắn với hành hương - dulịch.

Ngày nay, trong thời đạicách mạng khoa học kỹ thuật, tin học hoá, toàn cầu hóa, con người bừng tỉnh vềtình trạng tách rời giữa bản thân mình với tự nhiên, môi trường; với lịch sử xaxưa, với truyền thống văn hoá độc đáo đang bị mai một. Chính trong môi trườngtự nhiên và xã hội như vậy, hơn bao giờ hết con người càng có nhu cầu hướng về,tìm lại cái nguồn cội tự nhiên của mình, hoà mình vào với môi trường thiênnhiên; trở về, tìm lại và khẳng định cái nguồn gốc cộng đồng và bản sắc văn hoácủa mình trong cái chung của văn hoá nhân loại. Chính nền văn hoá truyền thống,trong đó có lễ hội cổ truyền là một biểu tượng, có thể đáp ứng nhu cầu bức xúcấy. Đó cũng chính là tính nhân bản bền vững và sâu sắc của lễ hội có thể đápứng nhu cầu của con người ở mọi thời đại.

Giá trị cân bằng đờisống tâm linh:

Bên cạnh đời sống vậtchất, đời sống tinh thần, tư tưởng còn hiện hữu đời sống tâm linh. Đó là đờisống của con người hướng về cái cao cả thiêng liêng - chân thiện mỹ - cái màcon người ngưỡng mộ, ước vọng, tôn thờ, trong đó có niềm tin tôn giáo tínngưỡng. Như vậy, tôn giáo tín ngưỡng thuộc về đời sống tâm linh, tuy nhiênkhông phải tất cả đời sống tâm linh là tôn giáo tín ngưỡng. Chính tôn giáo tínngưỡng, các nghi lễ, lễ hội góp phần làm thoả mãn nhu cầu về đời sống tâm linhcủa con người, đó là “cuộc đời thứ hai”, đó là trạng thái “thăng hoa” từ đờisống trần tục, hiện hữu.

Xã hội hiện đại với nhịpsống công nghiệp, các hoạt động của con người dường như được “chương trình hoá”theo nhịp hoạt động của máy móc, căng thẳng và đơn điệu, ồn ào, chật chội nhưngvẫn cảm thấy cô đơn. Một đời sống như vậy tuy có đầy đủ về vật chất nhưng vẫnkhô cứng về đời sống tinh thần và tâm linh, một đời sống chỉ có dồn nén, “trậttự” mà thiếu sự cởi mở, xô bồ, “tháo khoán”... Tất cả những cái đó hạn chế khảnăng hoà đồng của con người, làm thui chột những khả năng sáng tạo văn hoá mangtính đại chúng. Một đời sống như vậy không có “thời điểm mạnh”, “cuộc sống thứhai”, không có sự “bùng cháy” và “thăng hoa”.

Trở về với văn hoá dântộc, lễ hội cổ truyền con người hiện đại dường như được tắm mình trong dòngnước mát đầu nguồn của văn hoá dân tộc, tận hưởng những giây phút thiêng liêng,ngưỡng vọng những biểu tượng siêu việt cao cả - chân thiện mỹ, được sống nhữnggiờ phút giao cảm hồ hởi đầy tinh thần cộng đồng, con người có thể phô bày tấtcả những gì là tinh tuý đẹp đẽ nhất của bản thân qua các cuộc thi tài, qua cáchình thức trình diễn nghệ thuật, cách thức ăn mặc lộng lẫy, đẹp đẽ khác hẳnngày thường... Tất cả đó là trạng thái “thăng hoa” từ đời sống hiện thực, vượtlên trên đời sống hiện thực. Nói cách khác, lễ hội đã thuộc về phạm trù cáithiêng liêng của đời sống tâm linh, đối lập và cân bằng với cái trần tục củađời sống hiện thực.

Xem thêm: Biển Nào Có Vị Trí Ở Phía Tây Nhật Bản Và Những Điểm Nổi Bật Nhất

Giá trị sáng tạo và hưởngthụ văn hóa:

Lễ hội là một hình thứcsinh hoạt tín ngưỡng - văn hoá cộng đồng của nhân dân ở nông thôn cũng như ở đôthị. Trong các lễ hội đó, nhân dân tự đứng ra tổ chức, chi phí, sáng tạo và táihiện các sinh hoạt văn hoá cộng đồng và hưởng thụ các giá trị văn hoá và tâmlinh, do vậy, lễ hội bao giờ cũng thấm đượm tinh thần dân chủ và nhân bản sâusắc. Đặc biệt trong “thời điểm mạnh” của lễ hội, khi mà tất cả mọi người chanhoà trong không khí thiêng liêng, hứng khởi thì các cách biệt xã hội giữa cá nhânngày thường dường như được xoá nhoà, con người cùng sáng tạo và hưởng thụ nhữnggiá trị văn hoá của mình.

Điều này có phần nào đốilập với đời sống thường nhật của những xã hội phát triển, khi mà phân công laođộng xã hội đã được chuyên môn hoá, nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ văn hoá củacon người đã phần nào tách biệt.

Đấy là chưa kể trong xãhội nhất định, một lớp người có đặc quyền có tham vọng “cướp đoạt” các sáng tạovăn hoá cộng đồng để phục vụ cho lợi ích riêng của mình. Đến như nhu cầu giaotiếp với thần linh của con người cũng tập trung vào một lớp người có “khả năngđặc biệt”. Như vậy, con người, đứng từ góc độ quảng đại quần chúng, không cònthực sự là chủ thể của quá trình sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hoá mộtcách bình đẳng nữa. Xu hướng đó phần nào xói mòn tinh thần nhân bản của vănhoá, làm tha hoá chính bản thân con người. Do vậy, con người trong xã hội hiệnđại, cùng với xu hướng dân chủ hoá về kinh tế, xã hội thì cũng diễn ra quátrình dân chủ hoá về văn hoá. Chính nền văn hoá truyền thống, trong đó có lễhội cổ truyền là môi trường tiềm ẩn những nhân tố dân chủ trong sáng tạo vàhưởng thụ các giá trị văn hoá ấy.

Giá trị bảo tồn và traotruyền văn hóa:

Lễ hội không chỉ là tấmgương phản chiếu nền văn hoá dân tộc, mà còn là môi trường bảo tồn, làm giàu vàphát huy nền văn hoá dân tộc ấy.

Cuộc sống của con ngườiViệt Nam không phải lúc nào cũng là ngày hội, mà trong chu kỳ một năm, với baongày tháng nhọc nhằn, vất vả, lo âu, để rồi “xuân thu nhị kỳ”, “tháng tám giỗcha, tháng ba giỗ mẹ”, cuộc sống nơi thôn quê vốn tĩnh lặng ấy vang dậy tiếngtrống chiêng, người người tụ hội nơi đình chùa mở hội. Nơi đó, con người hoáthân thành văn hoá, văn hoá làm biến đổi con người, một “bảo tàng sống” về vănhoá dân tộc được hồi sinh, sáng tạo và trao truyền từ thế hệ này sang thế hệkhác. Tôi đã nhiều lần tự hỏi, nếu như không có nghi lễ và hội hè thì các lànđiệu dân ca như quan họ, hát xoan...; các điệu múa xanh tiền, con đĩ đánh bồng,múa rồng, múa lân...; các hình thức sân khấu chèo, hát bội, rối nước, cảilương...; các trò chơi, trò diễn: Đánh cờ người, chọi gà, chơi đu, đánh vật,bơi trải, đánh phết, trò trám... sẽ ra đời và duy trì như thế nào trong lòngdân tộc suốt hàng nghìn năm qua. Và như vậy thì dân tộc và văn hoá dân tộc sẽđi đâu, về đâu, sẽ còn mất ra sao?

Đã ai đó từng nói làngxã Việt Nam là cái nôi hình thành, bảo tồn, sản sinh văn hoá truyền thống củadân tộc nhất là trong hoàn cảnh bị xâm lược và đồng hoá. Trong cái làng xãnghèo nàn ấy, ngôi đình mái chùa, cái đền và cùng với nó là lễ hội với “xuânthu nhị kỳ” chính là tâm điểm của cái nôi văn hoá đó. Không có làng xã Việt Namthì cũng không có văn hoá Việt Nam.

Điều này càng cực kỳquan trọng trong điều kiện xã hội công nghiệp hoá, hiện đại hoá và toàn cầu hoáhiện nay, khi mà sự nghiệp bảo tồn, làm giàu và phát huy văn hoá truyền thốngdân tộc trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, thì làng xã và lễ hội Việt Nam lạigánh một phần trách nhiệm là nơi bảo tồn, làm giàu và phát huy bản sắc văn hoádân tộc!

3. Thực trạng hoạt động củacác lễ hội truyền thống ở Việt Nam

*

Lễ hội Quan thế âm

Nhữnghiệu quả không thể phủ nhận:

Trong những năm qua,công tác tổ chức và quản lý lễ hội ở nước ta đã có nhiều chuyển biến tích cực,từ tư duy nhận thức của các cấp lãnh đạo và toàn xã hội; việc ban hành và thựcthi các văn bản quản lý nhà nước, công tác thanh tra, kiểm tra lễ hội cho đếnviệc phục hồi và phát huy có hiệu quả nhiều lễ hội dân gian, góp phần quantrọng vào việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc, nâng cao đờisống tinh thần của nhân dân.

Hầu hết các lễ hội quymô quốc gia đến các lễ hội nhỏ phạm vi làng, xã đều được tổ chức các nghi thứccúng lễ trang trọng, linh thiêng và thành kính. Chương trình tham gia phần hộiphong phú hấp dẫn, bảo tồn có chọn lọc những phong tục tập quán tốt đẹp của dântộc theo xu hướng lành mạnh, tiến bộ, tiết kiệm, tổ chức các hoạt động văn hóadân gian, diễn xướng dân gian, dân ca, dân vũ, dân nhạc của các dân tộc đểquảng bá, giới thiệu những giá trị văn hóa của các dân tộc Việt Nam.

Mặt khác, việc tổ chứclễ hội dân gian đã kết hợp gắn kết các hoạt động văn hóa, thể thao truyền thốngvới quảng bá du lịch, giới thiệu hình ảnh đất nước, con người Việt Nam và mỹtục truyền thống văn hoá lâu đời tốt đẹp, độc đáo của dân tộc ta, khẳng địnhbản lĩnh, trí tuệ, tâm thức hướng về nguồn cội của cộng đồng. Đồng thời, cácsinh hoạt lễ hội truyền thống đã góp phần giáo dục đạo lý uống nước nhớ nguồn,tạo sự gắn kết giữa các thành viên trong cộng đồng, làm nên vẻ đẹp của các côngtrình tín ngưỡng, tôn giáo.

Do phát huy vai trò chủthể của người dân hoạt động lễ hội đã được xã hội hoá rộng rãi, huy động đượcnguồn lực lớn từ nhân dân, nguồn tài trợ, cung tiến ngày càng tăng, nguồn thuqua công đức, lệ phí, dịch vụ phần lớn đã được sử dụng cho trùng tu, tôn tạocác di tích lịch sử văn hoá, tổ chức lễ hội đã và đang góp phần bảo tồn cácphong tục, tập quán truyền thống và hoạt động phúc lợi công cộng.

Thông qua lễ hội, đã vàđang tạo lập môi trường thuận lợi để nhân dân thực sự là chủ thể của hoạt độnglễ hội, chủ động sáng tạo, cùng tham gia tổ chức, đóng góp sức người sức củacho các lễ hội truyền thống, nâng cao trách nhiệm của tổ chức cá nhân và cộngđồng trong tham gia hoạt động lễ hội, phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hộicủa đất nước và nhu cầu tín ngưỡng của các tầng lớp nhân dân.

Với tư cách là tàinguyên du lịch nhân văn đặc biệt, bản thân các lễ hội hay việc tổ chức các lễhội kết hợp phát triển du lịch là mô hình mới được hình thành những năm gần đâyvà đang trên đà phát triển mạnh, đem lại những hiệu quả văn hóa và kinh tếthiết thực như những đánh giá của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tại Hội nghịtriển khai công tác văn hóa, thể thao và du lịch: “Hoạt động lễ hội đã thực sựtrở thành hoạt động văn hóa du lịch, quảng bá hình ảnh đất nước và con ngườiViệt Nam, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế”.

Nhờ công tác chỉ đạoquyết liệt của Bộ và sự vào cuộc của các cơ quan chuyên môn như Thanh tra Bộ,Cục Văn hóa cơ sở, Cục Di sản Văn hóa, Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam, trongmùa lễ hội Xuân 2012 vừa qua, mộ số tồn tại trong công tác quản lý, tổ chức lễhội đã có những thay đổi cơ bản như Lễ hội chùa Hương (Hà Nội), Đền Trần (NamĐịnh). . .

Bốn cảnh báo về tổ chức1ễ hội cổ truyền hiện nay:

Bên cạnh những điều đángmừng trên, quan sát bức tranh lễ hội cổ truyền hiện nay, ta vẫn thấy canh cánhnhững lo lắng, băn khoăn. Sau một thời gian dài, do chiến tranh, do quan niệmấu trĩ, sai lầm của chúng ta, lễ hội mất mát, tiêu điều, nay phục hưng trở lại,do vậy cũng không tránh được lệch lạc, khiếm khuyết; công tác tổ chức và quảnlý lễ hội đã và đang nảy sinh nhiều bất cập, nhiều hạn chế và tồn tại. Tìnhhình đó được phản ánh thường xuyên, liên tục trên các phương tiện thông tin đạichúng, tại nhiều hội nghị, hội thảo cho đến cả nghị trường của Quốc hội, gâykhông ít bức xúc trong xã hội. Có thể khái quát thành bốn hiện tượng đáng cảnhbáo như sau:

Đơn điệu hoá lễ hội:

Văn hoá nói chung cũngnhư lễ hội nói riêng, bản chất của nó là đa dạng. Cùng là lễ hội, nhưng mỗivùng miền, thậm chí mỗi làng có nét riêng, theo kiểu người xưa nói “Chiêng làngnào làng ấy đánh, thánh làng nào làng ấy thờ”. Hay người xưa khi nói về nhữngnét riêng của lễ hội từng làng của Xứ Đoài thì đã có câu ca :

Bơi Đăm, Rước Giá, HộiThầy

Vui thì vui vậy, chẳngtầy rã La

Như vậy, mỗi lễ hội đềucó cốt cách, sắc thái riêng, cuốn hút khách thập phương đến với lễ hội làngmình. Tuy nhiên, ngày nay, lễ hội đang đứng trước nguy cơ nhất thể hoá, đơnđiệu hoá, hội làng nào, vùng nào cũng na ná như nhau, làm thui chột đi tính đadạng của lễ hội, du khách thập phương sau một vài lần dự hội thì cảm thấy nhàmchán và không còn hứng thú đi chơi hội nữa.

Trần tục hoá lễ hội:

Lễ hội gắn với tínngưỡng dân gian, do vậy nó thuộc về đời sống tâm linh nó mang “tính thiêng”.Tất nhiên, tính thiêng là cái vĩnh hằng, nhưng trong mỗi xã hội nó được biểuhiện ở những hình thức khác nhau. Lễ hội cổ truyền tuy nảy mầm, bén rễ từ đờisống hiện thực, trần tục, nhưng bản thân nó là sự thăng hoa từ đời sống hiệnthực và trần tục ấy. “Ngôn ngữ” biểu hiện của lễ hội là ngôn ngữ biểu tượng. Vídụ, 3 trận đánh giặc Ân của ông Gióng trong hội Gióng là 3 trận đánh mang tínhbiểu trưng. Giặc Ân cũng biểu trưng hoá thành yếu tố “âm” của 28 cô gái. Để nóivận hành của trời đất liên quan đến canh tác nông nghiệp của người nông dân,thì trong hội vật cầu hay hội đánh phết, người xưa đã biểu trưng hoá quả cầuhay quả phết thành màu đỏ biểu tượng cho mặt trời, được đánh theo hướng đôngtây là chuyển động của mặt trời…

Ngày nay, trong phục hồivà phát triển lễ hội, do chưa nắm được ý nghĩa thiêng liêng, đặc biệt là cáchdiễn đạt theo cách “biểu trưng”, “biểu tượng” của người xưa, nên lễ hội đang bịtrần tục hoá, tức nó không còn giữ được tính thiêng, tính thăng hoa và ngôn ngữbiểu tượng của lễ hội và như vậy lễ hội không còn là lễ hội đích thực nữa.

Quan phương hoá lễ hội:

Văn hoá nói chung, trongđó có sinh hoạt lễ hội là sáng tạo của nhân dân, do nhân dân và vì dân. Đó làcách thức mà người dân nói lên những mong ước, khát vọng tâm linh, thoả mãn nhucầu sáng tạo và hưởng thụ văn hoá của mình. Do vậy, từ bao đời nay, người dânbỏ công sức, tiền của, tâm sức của mình ra để sáng tạo và duy trì sinh hoạt lễhội. Đó chính là tính nhân bản, khát vọng dân chủ của người dân, nó khác vớicác nghi thức, lễ lạt của triều đình phong kiến trước kia.

Trong việc phục hồi vàphát huy lễ hội cổ truyền hiện nay, dưới danh nghĩa là đổi mới lễ hội, gắn lễhội với giáo dục truyền thống, gắn lễ hội với du lịch…đây đó và ở những mức độkhác nhau đang diễn ra xu hướng quan phương hoá, áp đặt một số mô hình địnhsẵn, làm cho tính chủ động, sáng tạo của người dân bị suy giảm, thậm chí họ cònbị gạt ra ngoài sinh hoạt văn hoá mà vốn xưa là của họ, do họ và vì họ. Chínhxu hướng này khiến cho lễ hội mang nặng tính hình thức, phô trương, “giả tạo”,mà hệ quả là vừa tác động tiêu cực tới chủ thể văn hoá, vừa khiến cho du kháchhiểu sai lệch về nền văn hoá dân tộc.

Thương mại hoá lễ hội:

Cần phân biệt giữa hoạtđộng mua bán trong lễ hội và việc thương mại hoá lễ hội. Từ xa xưa, trong lễhội không thể thiếu việc mua bán các sản phẩm độc đáo của địa phương, các mónăn đặc sản, mà hội chợ Viềng Ở Nam Định và các hội chợ vùng núi là hiện tượngđiển hình. Chính các hoạt động mua bán đó vừa mang ý nghĩa văn hoá, phong tục“mua may bán rủi”, vừa quảng bá các sản phẩm địa phương, mang lại những thunhập đáng kể cho một số ngành nghề ở địa phương. Đó là các hoạt động rất đángkhuyến khích.

Xem thêm: Giáo Án Công Nghệ Lớp 10 Bài 6, Sách Giáo Khoa Công Nghệ 10

Tuy nhiên, cùng với xuhướng phục hồi và phát triển lễ hội hiện nay, thì không ít các hoạt động mangtính “thương mại hoá”, lợi dụng lễ hội để thu lợi bất chính, ép buộc, bắt chẹtngười đi trẩy hội, đặc biệt là lợi dụng tín ngưỡng trong lễ hội để “buôn thầnbán thánh” theo kiểu “đặt lễ thuê”, “khấn vái thuê”, bói toán, đặt các “hòmcông đức” tràn lan, tạo dựng các “di tích mới” để thu tiền như trong lễ hộiChùa Hương, Bà Chúa Kho... Cũng không phải không có một số “tổ chức” mệnh danhlà quản lý lễ hội, hoạt động du lịch để bán vé thu tiền bất chính khách trẩyhội. Những hoạt động thương mại này đi ngược lại tính linh thiêng, văn hoá củalễ hội, đẩy lễ hội rớt xuống mức thấp nhất của đời sống trần tục.